|
Hôm nay cuối 2009 sang đầu 2010, anh chị Chu Quang
Chàng-Điền báo là cần tái bản Hồi Ký Tình
Yêu Thăm Thẳm. Người viết Tạ Ơn Chúa và cảm ơn người vì Hồi Ký được bẩy tuổi. Trong bẩy năm qua,
sách đem lại ích lợi nào, thì đó là Ơn Thiêng, làm sáng lên Tình Chúa, tình
người.
Điều gì nổi bật lên trong tôi từ bẩy năm qua? Dễ
thương hay khó thương? Vui hay buồn? Thật ra niềm vui “thăm thẳm” là có thêm
ngàn ngàn vợ chồng được tăng đầm ấm yêu thương, được con cái gần gũi, được cởi
mở cõi lòng khi nặng trĩu ưu tư, được ủi an khi tang chế, hay người thân phản
bội, v.v. Có Bầu khí “Tin cậy Cởi mở”, có “Thương yêu Gần gũi bằng Việc làm” như
vậy là nhờ tham dự các Khóa và sinh hoạt trong Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân
Gia Đình, và đọc 30 tác phẩm người viết đã in.
Như đã ghi, có trời nắng trời mưa, lúc nhẹ lúc
nặng, lúc dễ thương lúc khó thương. Cần đổi từ nặng ra nhẹ, khó ra dễ theo bẩy
thực tế: 1 Bạo bệnh; 2 Kết quả thật lạ? 3 Bao nhiêu chiếc còng? 4 Mưa nắng khá
nhiều; 5 Hội Bảo Trợ Nữ Tu và Từ Thiện; 6 Ra toà vì “TamHoly”; 7 Tạ Ơn “Hồng
Ngọc Khánh” và 70 tuổi “thất thập cổ lai hy”.
Nhiều người biết những việc này vì xẩy ra trong
bẩy năm qua (2003-2010). Vậy mời đọc để biết hơn, nhất là để Ngợi Khen Chúa dùm vì “Tình Người yêu
‘con’ không bờ không bến” (cf. Ps. 136). Xin Chúa của “Tình Yêu Thăm Thẳm” tuôn
tràn Hồng Ân trên Vị đang đọc những hang này.
1. Truyện bạo bệnh.
Tưởng liệt mà lại khoẻ. Tưởng hết đi mà nay vốn đi
khoảng 300 ngày mỗi năm cho các linh hồn ở nhiều tiểu bang bên Mỹ, Canada, Úc,
Nhật, Âu châu, và ba Miền Bắc, Trung, Nam tại Quê Nhà.
Đã mô tả bạo
bệnh này trong sách Giã Từ Yêu
Narita, từ trang 183, dưới tựa đề “Nhờ Đau Mà Sống”. Đại ý là cuối tháng 8
năm 2007, tôi đi ăn ở một tiệm để tiếp đón cha Cựu Đan Viện Louis Trương Sinh từ
Việt Nam
sang Mỹ. Thấy sò hến ngon nên ăn mấy con. Hôm sau bụng lâm râm nhưng vốn bay lên
tiểu bang Oregon để giúp các gia đình ở
Portland. Nhưng
đến đêm thì đau quằn quại, toát mồ hôi. Nằm cũng đau, đứng cũng đau, nhẩy cào
cào cũng đau. Đau điếng. Đau điên! Sau tâm trí bừng lên “Chúa Chịu Nạn, Chúa
Chịu Nạn...”, nhờ vậy dễ chịu đau, và đau cũng… dễ chịu hơn. Hôm sau tiếp tục cả
ngày để giảng dạy, nhưng đến tối thì… tối mày tối mặt. Các anh chị trong Chương
Trình TTHNGĐ ở Portland vội chở tôi vào Nhà Thương. Bác sỹ bảo “nguy kịch -
emergency”, nếu không mổ liền thì có thể banh ruột già bất cứ lúc nào, phân thối
tung toé vào các phần trong cơ thể, tẩy rửa rất khó khăn, đau đớn, lại dễ bị ung
thư. Tôi ký giấy mổ ngay, lúc đó khoảng 11 giờ đêm. Mổ xong thì đã về sáng. Từ
đó thay vì đi đại tiện qua “cửa hậu” thì tôi đeo bị để phân ra ngang người. Vì
vậy cha Chu Quang Tòng từ Bắc Việt email sang Mỹ, bảo “cậu thuộc loại ‘ruột để
ngoài da’; gia tộc cầu nguyện để cậu mau trở lại ‘ruột trong da’...”. “Dễ
thương” là khi gắn keo bao nylon để chứa phân vào da bụng mà dính chặt. Nhưng
“khó thương” khi bị tai nạn... nghề nghiệp, bao nylon bật keo, phân xì ra dơ
bẩn, hôi thối. Như tả trong Giã Từ Yêu
Narita, khi nằm ở Providence
Medical Center thì tôi được quý anh chị song nguyền Portland săn sóc 42/24. Khi
xuất viện thì anh chị Văn-Hoa đón về nhà, các anh chị tiếp tục thăm viếng và
cùng với các cha ăn tiệc mừng “chết đi sống lại”. Sau anh chị Tùng&Ngọc-Anh
tận tuỵ đưa tôi lên máy bay và cùng về San Jose là nơi tôi dưỡng bệnh và chờ đợi
sẽ đại giải phẫu nữa, để liệng bỏ bao nylon đựng phân. Sau mấy tháng thì mổ lại
và Tạ Ơn Chúa, được êm xuôi thật.
Khi dưỡng bệnh ở
Trung Tâm “Sacred Heart Jesuit Center” của Tỉnh Dòng, tôi cảm nghiệm Ơn Thánh
qua nhiều cha về hưu, nhất là các Vị lúc này thân xác tàn tạ, đau đớn, mà tâm
hồn sáng tỏa an vui. Đau mà vui. Chết vẫn vui. Có vị luôn niềm nở nên tôi hỏi
“Chắc cha khoẻ lắm?” Ngài nhẹ nhàng bảo: Có thể nghẹt thở bất thần, nên sống
ngày nào Tạ Ơn ngày đó - living day by day”. Nhiều vị bây giờ như vô danh, thì
khi xưa lừng danh là Giám tỉnh, viện trưởng, giáo sư, là tuyên úy hải quân, nhà
tù, hoặc tuyên úy cho… gái điếm, để điếm ăn năn hối cải, như Chúa hiện ra với
Thánh nữ Mađalêna sau khi Ngài sống lại.
Nay ảnh hưởng
của bạo bệnh vẫn còn, đó là đi đại tiện mỗi ngày đến chục lần. Ở đâu cũng đòi
làm “đại” cho “tiện”, đúng là “đại tiện”. Nhờ chuyện sau đây mà tôi dễ vui vẻ,
đó là có người than trách “Chúa để con vác thập giá nặng quá”. Chúa cho vào kho
lựa tuỳ thích. Anh bỏ cây cũ, rồi lựa hoài mà cây nào cũng nặng. Lựa nhiều nên
quên không nhớ cây cũ liệng đâu. Sau anh lựa được cây nhẹ hơn cả. Anh hí hửng
thưa Chúa, thì Chúa dịu dàng bảo “Con nhìn lại coi: đó là cây cũ vì con đã ký
tên vào đó từ lâu”.
Tuy nhiên, tôi
có thêm cây mới, đó là cây… tai “điếc”, trong đó có nguyên nhân vì bay nhiều.
Thật ra bị nặng tai bên trái, còn tai bên phải nghe được chừng 8/10. Trong nhiều
năm, khi máy bay hạ cánh, tôi bịt mũi thổi “phò phò” là có thể nghe tạm. Nhưng
mới đây càng thổi càng ù, mấy ngày sau còn nghễnh ngãng. Thôi thì “được tới đâu
hay tới đó”. Tôi nói vui trong các Khóa là “méo mó có hơn không”. Câu này nôm na
nhưng rất nâng đỡ tôi khi gặp khó khăn.
Những tháng bệnh
hoạn, lúcđầu tôi chán ngán khi phải đi bằng xe lăn hoặc chống gậy, bụng chẩy
máu, mang bị phân, đại giải phẫu mấy lần, v.v. Nhưng rồi tôi cảm nghiệm thâm sâu
hơn Mọi việc đều qua trừ Tình Yêu – All
passes but Love. Câu này tôi đã “giảng” cho cả ngàn người, và nay Chúa
Thánh Thần giảng cho tôi qua kinh nghiệm “xương máu” của mình. Dễ thương hay dễ
ghét rồi cũng qua, miễn sao lòng thanh thản, thay vì ai oán thì vui vẻ thứ
tha. Riêng về thời gian dưỡng bệnh,
tôi cần “hát lên bài ca” thật nhiều vì Chúa cho viết xong ba sách, là (1) sách
Yêu Thương Hiến Mình, gồm trên 100
nhân chứng về đời sống của Đức Cố Giám Mục Giuse Maria Nguyễn Quang Tuyến; (2)
sách Giã Từ Yêu Narita; và (3) sách
Chỉ Nam của Chương Trình
TTHNGĐ.
2.
Kết quả thật lạ?
Nhớ lại mấy năm sang Nhật với cha Nguyễn Hữu Hiến,
hoặc đến Charlotte, North Carolina với cha Lê Văn Tấn, hay mới đây tới Des
Moines, Iowa với cha Chu Quý Ly, v.v., tôi rùng mình vì sợ và vì vui. Sợ nặng
nề, sợ khó quá. Nhưng vui, vui lắm vì nhờ trải qua khó khăn mà cảm nghiệm thật
rõ “Ơn Ta đủ cho con” (2Cor. 12: 9).
(1) Tôi đã sang Nhật từ 1985 và ngày đó cha Nguyễn
Hữu Hiến đã mời hướng dẫn Linh Thao cho giới trẻ. Năm đó tôi cũng viếng thăm
Hiroshima, xót
xa cho hàng trăm ngàn người chết đau đớn vì một trái bom nguyên tử. Nguyện cầu
để con người được giải thoát khỏi nguy cơ nguyên tử! (có tấm hình in ở sách Hiểu Nhau, trang 134). Nhưng Khóa căn
bản để Chương Trình đích thực giúp ich cho các gia đình ở Nhật là Khóa 368, vào
cuối tháng 4, 2007. Sau cha Hiến thì phải kể đến anh chị Phạm Kiên-Tâm, nếu
không có anh chị thì hẳn không có Chương Trình ở đất Phù Tang. Anh chị là chiến
sỹ Phúc Âm cho các gia đình vì thấy ích lợi của Khóa nhờ trước đó anh chị đã
sang Mỹ dự Khóa ở Houston. Sau Khóa thì chị vui hơn, thương anh
như thương… đấng anh hùng! Anh chị “cải từ hoàn sinh” trong “Yêu thương Gần gũi
bằng việc làm”, nên cương quyết mở Khóa để mong nhiều vợ chồng cũng cùng vui
theo.
Tuy vậy, khi tôi
đã rời Mỹ, đã ở Việt Nam, và đã sẵn sàng bay sang Nhật, thì anh chị Kiên-Tâm gửi
điện thư bảo hủy bỏ “cancel” vì không có khóa sinh! Thế là nhẹ thành nặng. Nặng
nề quá. Tôi email lại rằng “một cặp cũng cương quyết làm, rồi Chúa và Đức Mẹ sẽ
giúp”. Khi sang đến Tokyo thì chỉ có vài cặp ghi danh thật. Cha
Hiến, anh Kiên và chị Tâm cùng tôi cầu nguyện, lấy danh sách toàn quốc để tìm
xem cặp nào nếu điện thoại thì hy vọng sẽ tham dự. Anh chị đã in các tài liệu,
các nhãn hiệu Nến Thiêng, Hoa Thiêng... Các việc sẵn sàng nhưng không người dự.
“Kết quả thật
lạ” là mười mấy cặp vào Khóa. Ơn Thánh tràn đầy. Tuy nhiên nếu muốn biết tâm lý
ở Nhật thì mời đọc từ trang 95, trong sách Giã Từ Yêu Narita. Kkông tìm hiểu thì
khó hiểu người Nhật và bất cứ ai sống ở Nhật.
Mặc dầu năm 2008
có Khóa 394 ở Osaka và Khóa 395 ở Tokyo, nhưng anh chị Kiên-Tâm hầu như mất…
kiên tâm và tôi cũng… kiên tâm lần chót. Không ngờ 2009 lại là năm “trời bừng
sáng” nơi miền đất Hoa Anh Đào. Khóa 411 ở Tokyo không những đem lại ích lợi cho
các khoá sinh, mà còn đem lại sức sống cho toàn bộ Chương Trình, với sự hiện
diện của Cha Mạnh (từ VN sang du học và nay học tiếp bên Roma) và Cha Đoàn Hiến,
dòng Don Bosco, cũng từ VN sang giúp bên Nhật. Đến Khóa 412 ở Himeji thì có Cha
Cao Văn Thân, S.J., luôn tích cực phục vụ và cha Đoàn Hiến cùng diễn giảng. Quan
trọng là nhờ Khóa Himeji mà các anh chị song nguyền cả nước đều
nức lòng sinh hoạt Liên Gia, Song Nguyền. Tuyệt vời khi “kiên tâm đến cùng sẽ
được cứu rỗi” (Mk. 13: 13).
(2) Nói đến Charlotte, NC.
với cha Lê Văn Tấn, là nói đến Miền Đông Nam Hoa Kỳ, đến cha Trần Tất Đắc ở
Greenville, SC., cha Trần Quốc Tuấn trong vùng Atlanta, Đức Ông Francis Phạm Văn
Phương ở “thủ phủ” Atlanta, đến anh chị Quyết-Điệp, anh chị Kiên-Nga, anh chị
Thắng-Mỹ, anh chị Sứ-Trang và thật nhiều anh chị, như anh chị Liêm-Ly, anh chị
Linh-Nhẫn, anh chị Chương-Liên, v.v.
Điều “kết quả
lạ” là sau nhiều thu xếp âm thầm và công khai thì nẩy sinh ra Miền Đông Nam của
Chương Trình TTHNGĐ, với Đức Ông Francis Phương là Vấn Nguyền Đặc Biệt, cha Tấn
là Tổng Linh Nguyền, anh chị Kiên-Nga là Chủ Nguyền, anh chị
Kiếm&Uyên-Phương là ký nguyền, v.v. Còn anh chị Phạm Văn Quyết-Điệp vốn là
nòng cốt.
Nhưng điều cần
là “tôi cứu tôi khi cứu người”. Tưởng đây là nét vàng son của anh chị Quyết-Điệp
và của các anh chị trong Miền, vì không những tự mở nhiều Khóa trong các tiểu
bang thuộc Miền, mà còn toả rộng qua bang Missouri, mở Khóa 431 ở Saint Louis,
nơi có Cha Đề và Cha Bình dòng Ngôi Lời là sở nhiệm. Sơ Kim Hà là huyết tộc với
tôi đã dự Khóa, nói với thân mẫu là Dì Tích và các em tôi rằng “Hay lắm. Ích lợi
lắm. Cần đi”. Thưa Dì, em Kim, các em và các cháu, hy vọng lần sau con đến được
để thêm ích lợi cho nhà và cho các linh hồn trong Xứ.
(3) Việc mở Khóa 427 ở Des Moines, Iowa đầu tháng 9, 2009 là món phụ trội “bonus”
Chúa ban. Đó là Đức Giám Mục Giáo phận Des Moines
bất ngờ đặt Cha Chu Quý Ly làm Cha Xứ của Giáo Xứ Việt Nam mới
lập. Trước đây chỉ có Lễ tiếng Việt mỗi tháng một lần và phải đi mượn nhà thờ.
Nay Đức Cha cho nhà thờ, cho nhà trường, cho cha xứ. Và Xứ vốn còn giáo dân Mỹ
nên họ giúp để tân trang.
Cha Ly tân trang
bên ngoài, nhất là tân trang bên trong là tâm lý đạo đức cho các gia đình. Ngài
tìm số điện thoại của tôi, liên lạc nhiều lần. Chưa biết nội dung thế nào, nhưng
ngài quyết rằng Chương Trình tốt cho cả Giáo Xứ. Cha lấy đâu ra sự tin tưởng
mãnh liệt như vậy? Cách nào thì cũng là Chúa an bài.
Và quả thật Khóa
đem lại những Ân Tình Thánh, những vui mừng ăn năn “Con nay trở về, trở về cùng
Chúa ơi... Ngài là Thiên Chúa rất nhân hậu và hay tha thứ...”. Cụ thể là một ông
đã an phận ở riêng để dễ làm việc tồng đồ, vì ông bà gần nhau là khắc khẩu,
thành gương xấu cho các con và Cộng đoàn. Rồi Cộng đoàn cũng đành nhận như vậy.
Buổi I thì ông bà ngồi xa nhau. Buổi II thì ân hận trầm ngâm. Buổi III thì
choàng tay chữa lành xin lỗi nhau để “Chúa vui, người vui, mình vui”. Cả Cộng
đoàn vui. Tưởng vui nhất là cha xứ Chu Quý Ly. Con cũng vui như cha Ly. Còn
nhiều “kết quả thật lạ” nữa, nhưng cẩn thận kẻo sa chước cám dỗ của khoe khoang
tự mãn. Bày tỏ để làm Sáng Danh Chúa thì tốt, nhưng nếu để sáng danh mình, thì
“Lạy Chúa đoái thương nghe tiếng con phàn nàn, con hết lòng ăn năn... xin Chúa
giúp con đau đớn vì tội lỗi…”.
3.
Bao nhiêu chiếc còng?
Thời điểm 7 năm (2003-2010) cũng là thời điểm tôi
về VN để mở Khóa như tả lại ở chương 14, từ trang 267. Vui có, sợ có, vừa muốn
bỏ vừa “chết bỏ” như say thuốc súng!
Sau Khóa đầu tiên vào tháng Giêng, 2003 ở
Toà Tổng Giám Mục Sàigòn, thì diễn tiến từ đó đến nay (2010) vừa khó vừa dễ, khi
nặng khi nhẹ. Nhưng nặng nhẹ theo tự nhiên hơn là siêu nhiên vì Chúa vốn để tôi
đặt chân đến nhiều nẻo đường, mở nhiều Khóa, giúp nhiều gia đình ở các Miền Bắc,
Trung và Nam, như 1Bắc Ninh, 2Bùi Chu, 3Phát Diệm, 4Hà Nội, 5Huế, 6Đà Nẵng, 7Buôn Ma Thuột, (tôi chưa đến
8Kontum nhưng có nhiều anh
chị đã dự các Khóa ở nhiều nơi và tự tổ chức để giúp nhau và giúp người),
9Nha Trang, 10Phú Cường, 11Long Khánh, 12Sàigòn, 13Mỹ Tho, 14Vĩnh Long, v.v. Có chữ
“v.v.” vì ở 15Bà Rịa, 16Long Xuyên, hay 17Quy Nhơn, v.v., đã có các
song nguyền dự các Khóa và đang sống Đoàn Sủng của Chương Trình với Mục đích
“Thương yêu Gần gũi bằng Việc làm”, dựa trên Nền tảng “Đá Nở Hoa Năm cánh, là:
Khiêm nhường Biết lỗi, Nhận lỗi, Xin lỗi, Sửa lỗi, Tha lỗi”.
Nay (2010) ở VN
có khoảng 6 ngàn các song nguyền hay các người đã dự Khóa, ảnh hưởng đến khoảng
20 ngàn người sống trong Thương yêu hơn, Khiêm nhường hơn, trong Bầu khí Tin cậy
Cởi mở hơn, dễ Xin lỗi-Cảm ơn hơn. Điển hình là một ông có uy tín đã quỳ Xin lỗi
Cha Sở, và Cha “Choàng Tay Chữa Lành” trong tâm tình “Lạy Nữ Vương Thiên Đàng
hãy vui mừng…”! Hoặc chị con dâu làm mẹ chồng sững sờ, nước mắt lưng tròng, rồi
ôm lấy chị mà nói “dâu như ruột”. Hay là có anh mấy chục năm “chồng chúa vợ tôi”
mà nay dịu dàng “Anh xin lỗi em”.
Với nội tâm và
cách cư xử theo Đoàn Sủng như trên, đoàn thể Công Giáo Tiến Hành này làm gì để
tốt đạo đẹp đời? Đưa tới hậu quả nào cho người Chúa dùng để lập ra? Dự tính gì
cho tương lai?, v.v.
Ngoài ích lợi
cho cá nhân được thanh thản hơn, con cháu được sống trong bầu khí gia đình đầm
ấm hơn, và Giáo xứ được thêm người phục vụ Tông Đồ Song Đôi..., thì biến cố vừa
hay vừa dở, chính là Đại Hội Song Nguyền Thế Giới Kỳ III tổ chức tại Thánh Địa
La Vang, Huế, dịp Tết năm 2007. Đại Hội này “hay” vì chỉ trong bốn năm (2003-07)
mà có các song nguyền khắp Bắc, Trung, Nam, lại thêm hàng trăm song nguyền ở
các châu lục về dưới Chân Mẹ Từ Bi. Dở vì ngày khai mạc mà ủy ban tôn giáo Huế
còn vào tận nơi thanh tra, hồi hộp đứng tim vì có thể bị dẹp. “Dở thành Hay” vì
sau khi kiểm soát mấy trăm biểu ngữ rút ra từ Kinh Hôn Nhân Gia Đình và Kinh
Đoan Nguyền Phục Vụ, như “Lắng nghe và Kính trọng nhau lúc Vui cũng như khi
Buồn”, “Hiếu nghĩa và Chung thuỷ từ trong Gia đình cho đến ngoài Xã hội”, “Biết
lấy Gương lành mà Dưỡng duc Con cái”, “Hoà giải Lắng nghe khi căng thẳng bất
đồng”, v.v., lúc đó ủy ban thở phào, bảo “Làm được”. Đúng như lời Đức Mẹ dạy
cách đây trên 200 trăm năm, là Mẹ nhận lời những ai đến khẩn cầu Mẹ tại nơi chốn
này! “Biết lấy gì cảm mến, biết lấy chi báo đền” ngoài việc hát lên “Cung chúc
Trinh Vương là kho tích ơn thiêng, Mẹ đã hy sinh lập công để cứu chuộc nhân
loài...”
“Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi, nhưng
khó vì lòng người ngại núi e sông”, có phải Nguyễn Thái Học đã dạy... học thế
không? Dầu không hay có thì vốn có e ngại, đó là ngại về ở VN quá lâu, vì sau
mấy tuần thì ngứa ngáy, “ghẻ tàu”, “ghẻ ta”, cơ thể nổi mụn đỏ lòm, như bật máu
tươi. Ngứa và ngứa, chỉ muốn gãi. Sướng làm sao lúc đang gãi, nhưng sẽ khốn khổ
nếu gãi. Sau tôi rút kinh nghiệm để thông thái, để “thái học” hơn. Đó là đi bác
sỹ từ Mỹ rồi đem thuốc ngứa về Quê. Nổi mụn là thoa ngay, nhờ vậy bớt ngứa nên
cũng bớt “quê” vì gãi.
Hết ngứa lại
xình. Bụng xình, chình ình. Người khốn khó. Đã nhiều... đại tiện mỗi ngày, mà
nay thêm thức ăn lung tung khắp ba Miền, thì càng dễ “tiện đại”. Đang bon bon
trên quốc lộ I mà kêu lên “Huy ơi! Cháu bảo tài xế cho xe ngừng vì chú...” Nếu
“tiểu” chứ không “đại” thì “tiện đại” ngay lên bánh xe, tưới cho bánh ít nước để
lăn trên đường bớt bụi bặm. Đến đâu cũng việc đầu tiên là hỏi “Huy ơi, mua giấy
đi cầu cho chú” (Cảm ơn anh Huy, người cháu đi khắp các nẻo đường gian nan để
giúp chú làm việc tông đồ). Với sức khoẻ như “lực sỹ gà” mà đi được, nói được,
hướng dẫn Khóa được, rồi về lại Mỹ được, nên tôi thấy thật đúng “Tất cả là Ân Huệ – Tout est Grace – All is
Grace”.
Khó khăn về thân
xác và khó khăn về tâm trí. Như nơi kia hí hửng treo biểu ngữ chuẩn bị cho Khóa,
nhưng lại huyênh hoang vì tháp babel còn ngạo nghễ khi chê bai công an. Ngay tối
đó họ bắt hạ biểu ngữ, bãi bỏ Khóa. Đôi bên nghênh chiến rồi cầu cứu “cha sáng
lập”. Bị giồn vào thế bí, nên tôi bảo “hãy nói rằng ‘cha sáng lập’ đêm rồi bị
sình bụng tiêu chẩy, kiệt sức...” Khóa tan. Và cũng tan luôn những ngạo nghễ
huyênh hoang. Từ đó thêm khiêm nhường, từ tốn.
Khó khăn hơn nữa
là người đi ngay cạnh tôi, lại là người gây phiền luỵ vì lúc thì đe dọa bỏ, lúc
thì đẩy người này, kéo người nọ. Nói xuôi nói ngược, nên tôi không biết thực hư
ra sao. Rối như tơ vò. Vì là những tiêu cực, dễ va chạm đến người khác, nên
không đi vào chi tiết. Sau tôi thường nói với người thân rằng “Thế mới tỏ ra
Chúa làm chứ không phải mình làm”.
Có hai việc “khó
thành dễ” mà chia sẻ được, vì liên hệ đến “người công” chứ không phải “người
giáo” như sau:
– Thứ nhất là công an đem mấy chục cái còng đến
(26 cái?), rồi không còng mà khen. “Khóa ấy” ở “nơi kia” đang diễn ra cho gần
200 trăm khóa sinh, thì một đoàn công an vào Nhà Xứ, tra vấn “tại sao cho việt
kiều giảng dạy?” Cha Xứ sợ rằng tôi sợ, mất tinh thần để hướng dẫn Khóa, nên
ngài nhận mình trực tiếp lo cho giáo dân, còn “ông ấy” đến thăm Vị Giám Mục,
nhân tiện chia sẻ ít kinh nghiệm vì là nhà chuyên môn về tâm lý gia đình. Nghe
đâu nhiều cặp “bên họ” len lỏi vào nghe ngóng. Tưởng xấu mà tốt vì nhiều cặp
“bên đó” đã bá cáo tốt khi chính họ đầm ấm với nhau hơn. Hôm sau đoàn công an
lại đến, nhưng không mang còng mà mang lời khen “May mắn mới có được người
chuyên môn, nên thật... tốt, cứ làm”. Đến muôn đời con Tạ Ơn Chúa!
(Còn tiếp...) |