|
Sau
nhờ Chúa tác động mà tôi bỉnh tĩnh, tỉnh trí, cương quyết chủ động chứ không bị
động. Chẳng hạn nếu bị hỏi: “Ông đã làm gì?”, thì tôi nhẹ nhàng bảo: “Tôi trả
lời cụ thể như thế này, thí dụ sáng nay ông đi làm, ra tới cửa nhà rồi ngoái vào
trong và nói ‘Em ơi, cầm ra cho anh cái mũ’. Tuy bà cũng cầm mũ ra nhưng mặt
nhăn nhó. Vậy việc tôi làm là nếu ông bà đến dự Khóa chỉ ba ngày thôi, thì bà sẽ
vui vẻ cầm mũ ra, có thể còn hôn ông nữa...”. Nhiều thẩm vấn viên cười. Tôi
cười.
Cứ thế và cứ
thế. Bầu khí cởi mở hơn, bớt căng thẳng. Người hỏi và người nói bớt “gờm nhau”.
Tôi được câu “mát ruột” khi ông thẩm vấn trưởng nói “Các sách của ông giúp cho
tốt đời đẹp đạo, nên cứ phổ biến”. Còn câu “nát ruột” là “Ông làm trái pháp lệnh
vì việt kiều không được giảng...” Tôi đáp: “Tôi không giảng mà giúp cho các vợ
chồng bớt xô xát, con cháu tránh xì khe...”. Tuy vậy khó vốn khó. Nhất là khi
buộc tôi phải xin phép. Tôi trả lời, đại ý là “Sẵn sàng. Nhưng trước khi xin
phép chế độ thì tôi cần bốn phép nữa, đó là phép của Cha Giám Tỉnh bên
California, phép của Bề Trên Cả bên Rôma, phép của Đức Hồng Y tại Sài gòn, và
phép của Cha Giám tỉnh tại Thủ Đức”. Phép và phép. Nhiều phép nên chuyện phép
được lờ đi.
Cần thêm rằng
nếu tôi không “sợ công” thì công (an) cũng không sợ tôi. Mà đôi bên dịu xuống
hơn, “biết điều” với nhau hơn. Ông trưởng buộc tôi ký biên bản là “không mở các
Khóa ở Sàigòn trong ba tuần trước khi chiếu khán hết hạn”, và tôi dịu xuống để
làm đúng như thế, và ông cũng dịu xuống, khuyến khích tôi “huấn luyện cho người
trong nước làm”. Điều này tuyệt vời, vì lúc đó (2007) các song nguyền “hăng
lắm”, nhưng với điều kiện là “cha cần có mặt”. Sau cuộc thẩm vấn thì tôi dốc
toàn lực để huấn luyện Trường Nội Dung, và liền ngay sau thì Sàigòn đã tự mở
Khóa 100% ở Hạt Thủ Đức.
Từ đó có các
Khóa Huấn Luyện Trường Nội Dung ở Huế, Bắc Ninh, Bùi Chu, Đà Nẵng, và huấn luyện
thêm nữa ở Sàigòn. Rồi tự mở lấy nhiều Khóa ở Phát Diệm, Huế, Sàigòn, Nha Trang,
v.v.
Việc thật lớn,
đó là trước đây Đức Hồng Y JB. Phạm Minh Mẫn và Đức TGM. Têphanô Nguyễn Như Thể
đã ra văn thư, chính thức công nhận Chương Trình TTHNGĐ trong hai TGP., cũng như
Đức Cha Đa-Minh Mai Thanh Luơng đã viết văn thư bằng Anh ngữ để chứng nhận sự
ích lợi của Chương Trình. Và nay Giuse Đức Cha Châu Ngọc Tri, Giám Mục Đà Nẵng,
đặc trách Mục Vụ Gia Đình cho Giáo Hội VN, đã chấp nhận Ban Điều Hành Chương
Trình TTHNGĐ Toàn Quốc vào tháng 5, 2009. Văn kiện về Ban Điều Hành này như sau:
Giáo Hội Công Giáo Việt Nam
Ủy Ban Mục Vụ Gia Đình
Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình
Ban Điều Hành Toàn
Quốc
+ Giám mục đặc trách Mục vụ Gia
đình:
Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri,
Giám Mục Giáo phận Đà Nẵng.
VVấn nguyền Danh Dự:
++ Đức TGM Têphanô Nguyễn Như
thể, TGM.
Tổng Giáo phận Huế.
♥ Sơ Têrêsa Thanh Hương, Dòng
Thánh Phaolô, Đà Nẵng.
♥ Mẹ Gonzaga Tùng, Dòng Đức Mẹ
Vô Nhiễm, Huế.
* Trách nhiệm về Đoàn Sủng của
Chương Trình: Cha Phêrô Chu Quang Minh,
S.J.,
sáng lập Chương Trình
TTHNGĐ.
– Tổng Linh nguyền tòan quốc: Cha Giuse Vũ Dần, Đà Nẵng, Giáo Tỉnh
Huế.
– Phó TLN I tòan quốc: Cha Phanxicô Assisi Lê
Quang Đăng, Sàigòn, Giáo tỉnh Sàigòn.
– Phó TLN II tòan quốc: Cha Phêrô Hồng Phúc, Phát
Diệm, Giáo tỉnh Hà Nội.
– Ban Linh nguyền tòan quốc: Các Cha Linh Nguyền
của các Gp. trên tòan quốc.
* Giám nguyền Trường Nội Dung toàn quốc: Cha
Phaolô Nguyễn Luận, Huế.
* Phó Giám nguyền I TND toàn quốc: Cha Phêrô
Nguyễn Văn Thỉnh, Sàigòn.
* Phó Giám nguyền II TND toàn quốc: Cha Đaminh
Trần Công Danh, Đà Nẵng.
* Ban Giám nguyền tòan quốc: Các Cha Giám nguyền
của mỗi Gp. trên tòan quốc.
* Trường Nội Dung tòan quốc: Do Cha Giám nguyền và
Ban Giám nguyền/tq. thành lập,
sau khi đệ trình lên Đức Cha
đặc trách Mục Vụ GĐ và Cha TLN.
►Sẽ thêm
các linh mục khác khi có nhu cầu.
*** *** ***
1. Chủ nguyền t. quốc: AC. Lê Xuân Hảo-Tuyết, Huế.
2. Phó nguyền Nội vụ toàn quốc : AC.Trần Văn
Bính-Lý, Sàigòn.
3. Phó nguyền Ngọai vụ toàn quốc: AC. Nguyễn Văn
Từ-Liên, Đà Nẵng.
– Các Phó Chủ nguyền tòan quốc: Các Chủ nguyền của
các Giáo phận trên tòan quốc.
4. Ký nguyền toàn quốc: AC. Nguyễn Văn Yên-Hương,
Đà Nẵng.
5. Quỹ nguyền toàn quốc: AC. Đinh Ngọc Tâm-Phước,
Đà Nẵng.
6.Trưởng Ban Song Nguyền toàn quốc: AC. Bạch Văn
Dũng-Hồng, Huế.
7.Trưởng Ban Liên Gia toàn quốc: AC Nguyễn Ngọc
Ý-Hương, Huế.
8.Trưởng Ban Linh Trợ toàn quốc: ÔB. Chu Quang Phách-Cần, Bắc Ninh.
Ủy viên các Nghành Chuyên biệt:
1. Ủy viên Kinh Thánh toàn quốc: ÔB. Võ Tấn
Vi-Danh, Mỹ Tho.
2. Ủy viên Xã Hội toàn quốc: AC. Nguyễn Văn Hân-Nhung, Bắc
Ninh.
3. Ủy viên Giới Trẻ toàn quốc: AC Nguyễn Kế
Nghiệp-Tuyết, Vĩnh Long.
4. Ủy viên Sinh Họat toàn quốc: AC. Trần Trọng
Giả-Tỵ, Bùi Chu.
5. Ủy viên Bản Tin - Đặc San Song Nguyền tq.: AC.
Nguyễn Xuân Thành-Hợp, Nha Trang.
6. Ủy viên Văn Hóa-Lên mạng “website” toàn
quốc: AC. Nguyễn Văn Cảnh-Hiệp, Buôn Ma Thuột.
7. Ủy viên Tài chánh toàn quốc: AC. Hồ Công
Văn-Xuân, Kontum.
8.
Thêm các uỷ viên khác khi có nhu cầu.
►Dựa
trên và thích ứng từ Nội Quy chung, do linh mục sáng lập
viết trong sách Hướng Dẫn Sinh Họat,
q. I, từ trang 17.
Ban Điều Hành Toàn Quốc bắt tay vào việc ngay với
dự kiến về hội họp, về gần gũi giữa các Miền Bắc, Trung, Nam. Dự kiến cụ thể là việc tự mở các
Khóa, như Khóa 434 ở Nha Trang, cha LN. Nguyễn Xuân Dũng đã phối hợp với cha
TLN/tq.Vũ Dần, với cha Giám Nguyền/tq. Nguyễn Luận, và có trợ nguyền từ Sàigòn
ra, như anh Huy, anh Minh, v.v. Việc cần thiết nữa là duy trì sau Khóa, nên đã bàn thảo để giúp đỡ Họp
Liên Gia và Họp Song Nguyền ở các Giáo Phận và các Giáo Hạt mới thành lập, v.v.
Việc lớn cho cả
thế giới, là dự kiến về ĐẠI HỘI SONG NGUYỀN THẾ GIỚI KỲ IV vào mồng 5 Tết “Con
Rồng”, bắt đầu từ thứ Sáu, ngày 27 tháng Giêng năm 2012 (bế mạc vào Chúa Nhật)
tại THÁNH ĐỊA LA VANG, Huế. Dịp này kỷ niệm NGÂN KHÁNH, Chương Trình phục vụ các
gia đình trên thế giới được 25 năm.
4.
Mưa nắng khá nhiều.
Mưa, mưa tầm tã. Tưởng an phận...chết trong mưa để
“chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” theo Kinh Hòa Bình. Nhưng đột biến
hết mưa. Trời lại sáng. Lại đến được nơi tưởng không bao giờ đến nữa với tư cách
trong Chương Trình TTHNGĐ. Có nhiều sự kiện trầm bổng theo chiều mưa nắng,
ở đây ghi lại một ít tượng
trưng.
(1)
Truyện lập và...đồng. Truyện này nhen nhúm từ xa xưa, lúc tôi mới khởi xướng
Chương Trình được ít năm. “Thuở đầu” nên các việc cũng ý hiệp tâm đầu vì chưa có
đầu óc nào nắm vững cách thức tổ chức, ngoại trừ người lập ra Chương Trình. Sau
có người rõ hơn thì tôi khốn khó nhiều chiều. Chiều nào cũng mưa. Mưa dầm dề,
đến mức tôi chỉ mong sao “còn chút ích lợi gì cho các gia đình thì thôi”. Khi
quá đau đớn trên Thập Giá, Chúa đã than lên “Cha bỏ Con sao đành”, tôi cũng
nương theo để nguyện “Chúa ơi, con bỏ mà đau. Nhưng cho con không bỏ các linh
hồn”.
Để hiểu chuyện
thì cần bắt đầu bằng thực tế theo lịch sử, đó là nay có gần mấy tỷ người tin vào
Chúa và sống theo Kinh Thánh, nhưng chia thành nhiều nghành hay Giáo Hội, như
Công Giáo, Chính Thống, Tin Lành... Nghành nào xưng mình có từ đầu thì dễ giữ
theo cổ. Còn Giáo Hội Công Giáo thì xưng rằng Kinh Thánh thì không đổi, nhưng
cách thức sống thì cần thích ứng. Nên có Công Đồng Vatican
I, rồi II, và tương lai chắc hẳn sẽ có III. Chương Trình TTHNGĐ cũng tương tự
một phần. Đó là những nơi cũ thì khó cải tiến vì quen cách thức cũ từ mấy chục
năm trước. Còn nơi mới mở Khóa thì dễ tiến hơn, mau thay đổi tính nết, mau vui
vẻ nhờ dễ khiêm nhường Xin lỗi Cảm ơn. Các phần trong Khóa lại ít tốn thời giờ,
gọn hơn và thực tế hơn.
Áp dụng vào nơi
tôi nói ở trên thì đây là nơi kỳ cựu từ đầu, có thể tự tổ chức được Khóa, nhưng
dễ chỉ theo những cách thức cổ xưa mà thôi. Đã vậy, một ít người lại muốn có uy
tín và quyền hành nên tìm cách đẩy tôi đi thì mình mới toàn quyền, mới thật quan
trọng. Việc “đẩy” này có phần dễ, đó là đẩy tôi ra khỏi các Khóa, bằng cách tự
ấn định ngày mở Khóa mỗi năm vào những ngày tôi phải mở Khóa ở nơi khác, nhất là
ở các nước khác. Vì vậy tôi không có mặt được ở nơi ấy trong hơn 10 năm.
Nói chung, việc
không hay đẹp thì tôi tránh nêu tên bao nhiêu có thể, tuy cũng có lúc Thánh
Phaolô nêu rõ: “Anh hãy mau mau đến với tôi, vì anh Đê-ma đã bỏ tôi, bởi yêu mến
thế gian này... A-lê-xan-đê, người thợ rèn, đã gây cho tôi nhiều khốn khó; Chúa
sẽ cứ việc anh ta làm mà trả báo. Cả anh nữa, cũng hãy đề phòng anh ta,...”
(2Tim. 4: 9-15). Thật ra, Thánh Phaolô đã nêu tên cụ thể của nhiều người tốt
lành (xem Col. 4: 10-14; Eph. 6: 21-22; Phil. 4: 21-22; v.v.). Theo gương Ngài,
trong sách Hồi Ký này, tôi cũng nêu
lên rất nhiều tên của những người đồng lao cộng tác tích cực, nhiệt
thành.
Trở lại truyện “mưa nắng”, thì trước tiên là có lá
thư đặt vấn đề có ai đồng sáng lập ra Chương Trình TTHNGĐ không? Tôi đã trả lời như dưới đây:
Hình Thành
Chương Trình
Thăng Tiến
Hôn Nhân Gia Đình
Cuối tháng 6, 2008, một thư nêu lên “có ai đồng
sáng lập ra Chương Trình (CT) Thăng Tiến Hôn Gia Đình (TTHNGĐ) không?” Đây là
việc cần sáng tỏ trước Nhan Chúa và Giáo Hội, nên linh mục sáng lập (lmsl) đưa
ra các điểm sau:
I.
Thế nào là “đồng sáng lập”?
Ia.“Đồng” là “cùng chung từ đầu,” thiếu người
này thì người kia không suy nghĩ, sáng kiến, và không thực hành được. Thí dụ
hãng điện tử “HP.” Trong thập niên 1930, ông Helwett và ông Packard từ lúc phôi
thai, đã cùng nhau suy nghĩ và thí nghiệm trong một garage để xe ở Vùng Silicon
Valley, Bắc California. Sau đó mỗi ông góp $50.00 và cùng
đi vay cho đủ $250.00 để cùng thiết lập “hãng HP” và cùng kiện tòan cho hợp
thời, nay còn là công ty lớn trên thế giới.
Ib. Áp dụng câu
“đồng, cùng chung từ đầu, thiếu người thì người kia không…” vào CT, thì không
như vậy. Vì
CT trải qua giai đọan I (1978-1983), một mình lmsl thâu
thập tài liệu, nghiền ngẫm, và lặn lội với tâm lý hướng dẫn và thực tập Linh
Thao. Sau đó định áp dụng cho giới trẻ, nhưng rồi thấy gia đình thật cần,
nên mới có CT.
– Giai đọan II (1983-1985), một mình lmsl
suy nghĩ, sáng tác, và thực hành làm thử trong các Khóa Tĩnh Tâm Linh Thao
Gia Đình. Giai đọan II này ĐÔ. Francis Phương mời lmsl đến Atlanta, và nhiều Vị mời
lmsl đến nhiều tiểu bang.
– Giai đọan III (1985-1987), một mình
lmsl sáng tác ra Nội Dung của Khóa TTHNGĐ, Kinh Hôn Nhân Gia Đình, và sáng tác
Huy Hiệu. Rồi một mình lmsl đi thực
hành ở nhiều nơi như Wichita, KS (9/1986), Orange (6/1987), v.v., theo Phương Pháp hay cách thức, đường lối
mình đưa ra.
– Ic.
Giai đọan IV(1987à) là
Khóa I ở Orange,
Khóa I ở nhiều tiểu bang, Khóa I ở các nơi, nhất là Khóa I thật run sợ ở VN.
Các Khóa I và các Khóa kế tiếp (nay
là 393 Khóa Căn Bản, nhiều Khóa Tu Nguyền và nhiều lọai Khóa khác để nuôi dưỡng
Đòan Sủng của CT cho các song nguyền khắp nơi) đều không có thực tế “nếu thiếu người này thì
người kia không suy nghĩ… thực hành được”, ngòai việc góp phần về tổ chức.
Các nơi có thể xếp nhiều cách cho hợp hòan cảnh để phát triển CT, nhưng không
thay thế Đòan Sủng hay Phương Pháp.
Như sau khi sáng
chế ra thuốc rồi, thì tổ chức để phổ biến; không ở nơi này, cho người này, thì ở
nơi kia, cho người kia, nhưng không thay thế công thức vì sẽ thành lọai thuốc,
lọai CT khác.
ĐGH Gioan-Phaolô
II có sáng kiến và đường lối về Ngày Giới Trẻ Thế Giới (NGTTG), nhưng nếu không
có những Vị tích cực thi hành thì không có những NGTTG.
Hoặc “không khóa sinh thì không có Khóa,” hay
“không bệnh nhân thì không có bệnh viện.” Nhưng không gọi những Vị/Cặp trên,
hoặc khóa sinh, hay bệnh nhân là “đồng sáng lập.”
►Chúa
Kitô sáng lập ra “Thuốc” Cứu Độ và Hội Thánh. Các Thánh Tông Đồ sống chết để rao
truyền phổ biến, mà không ai là “đồng sáng lập” ra Thuốc và Giáo
Hội.
– Giai
đọan V(2000 à thời
gian có chồng lên nhau –overlap – giữa gđ IV và V) tiếp tục kiện tòan qua
chữ viết, hướng dẫn và “Trao Ra,” bằng cách huấn luyện các địa phương trên thế
giới. Khẩn cầu Thánh Gia cho bây giờ và sau khi lsml chết, thì CT vốn còn sống,
mang ích lợi cho nhiều gia đình các nơi, bằng tiếng Việt và tiếng
Anh.
Nếu “đồng” thì
phải cùng chung mọi việc trong 5 giai
đọan, không chỉ ít khúc trong ít đọan.
Id
Về Khóa I ở Orange,
6/1987:
1 Mọi người dự
Khóa I ở Orange đều là khóa viên, đều lắng nghe
về nội dung và thực hành theo phương pháp lmsl đưa ra, không ai “đồng, cùng
chung” hướng dẫn với lmsl.
2 Các bàn hỏi và
cầu nguyện liên hệ đến tổ chức, như tìm kiếm khóa sinh, địa điểm, thưa trình
Đấng Bản Quyền, in ấn tài liệu, v.v., mà không liên hệ đến sáng tác về Nội Dung,
Đặc Tính Đòan Sủng, hoặc Phương Pháp Hướng Dẫn Khóa, vì những “thuốc” này lmsl
đã “chế” và đã phổ biến ở Wichita từ 9/1986. Sau này tuy thêm bớt kiện tòan,
nhưng đã sẵn căn bản.
3 Bàn thảo về tổ
chức để thực hành Đòan Sủng thì xẩy ra ở mọi Khóa, nhất là các Khóa I ở các nơi.
4 Sau Khóa I ở
Orange, lmsl đưa ra Nội Dung và Phương Pháp để Duy Trì, tức là “Họp Song
Nguyền,” rồi đi xuống Orange trong nhiều năm tháng để thực hành việc họp cho
thành thạo.
5 Khóa I này
thuộc giai đọan IV, Ic, đã trễ. Lại không đặt ra “đồng sáng lập” vì vốn một mình
lmsl hướng dẫn.
6 Giả thiết sau mấy năm lmsl đi các nơi mở
Khóa, nhưng bị từ chối vì vô bổ, vì tư cách, v.v. Do đó CT bị chê, bị chết. Nếu đã xẩy ra như vậy, thì nay sau mấy
chục năm, có vấn nạn “đồng sáng lập” không? Có lẽ mọi người đã quên, hoặc ngại
nhắc tới.
II. Nội Dung Nền Tảng và các sách Thủ Bản của
CT/TTHNGĐ:
IIa. Không ai
“đồng, cùng” sáng tác ra Kinh Hôn Nhân
Gia Đinh.
Không ai “đồng,
cùng” sáng tác ra Nội Dung, nhất là
Đòan Sủng hay Đặc Tính “ID” của Chương Trình.
Không ai “đồng,
cùng” ság tác ra Phương Pháp của
Chương Trình.
Không ai “đồng,
cùng” sáng tác ra Huy Hiệu của Chương
Trình.
Không ai “đồng,
cùng” viết ra các sách Thủ Bản của CT, là sách (1) Nền Tảng và Nội Dung; (2&3) Hướng Dẫn Sinh Họat; (4) Kiện Tòan; (5) Chỉ Nam; (6,7,8) [Three Books in English]; (9) Hồi Ký tình Yêu Thăm Thẳm, hay là chiều
sâu nội tâm hình thành, duy trì và phát triển Chương Trình.
IIb. Vấn nạn về việc lmsl viết ở ba sách, xẩy ra ở
giai đọan IV và V trong việc hình thành CT:
1 Đề ở phần đầu
của sách Nền Tảng và Nội Dung và hai
sách Hướng Dẫn Sinh Họat ba phần là
“Kính Dâng Giáo Hội Mẹ Việt
Nam, v.v.”; phần hai là “Tưởng Nhớ Đức Cha Cố Đaminh Hòang Văn
Đòan, O.P., v.v.”;
2 Và phần ba là
“Tri Ân Dòng Tên Chúa Giêsu, Quý Đức
Cha, Quý Đức Ông, Quý Cha, Quý Tu Sỹ Nam Nữ, Cùng Với Nhiều Quý Vị Giáo Dân Như Ông Bà Nguyễn Văn Nhuệ &
Thu-Nhi Đã Cộng Tác để Khai Sáng Và Phát Triển CT/TTHNGĐ.”
3 Như vậy, lmsl
Kính Dâng, Tưởng Nhớ, và Tri Ân chứ không tuyên bố “đồng sáng
lập.” Lại Tri Ân tất cả các Vị mà lmsl
kính cẩn nhắc đến, trong đó Vị có tên đích danh là một thí dụ qua chữ
“như.”
IIc. (1) Lại
nữa, chữ như đi sau cụm từ cùng với nhiều quý vị giáo dân. Thực tế
này làm sáng tỏ lòng kính cẩn tri ân
của lmsl đối với nhiều chứ không phải
một Vị/Cặp. (2) Khi trích dẫn, cắt xén, bỏ người khác ra cốt ý chỉ quy về mình,
đó là bất kính, bóp méo sự thật, tà ý. (3) Sau khi Chúa Kitô chay tịnh 40 đêm
ngày, quỷ trưng Kinh Thánh cố ý hại Ngài nhưng không được (cf. Lk. 4: 2-13).
(4) Và nếu “đồng sáng lập” thì phải đồng, phải cùng lmsl Tri Ân các Ân Nhân, không
phải một mình lmsl Tri Ân, như đôi tân hôn cùng đi bày tỏ Cảm Ơn,
v.v.
IId. Tối Cao
Pháp Viện Mỹ tìm hiểu ý định (intentions) qua chữ viết (writings) của Hiến Pháp
(Constitution).
Hoặc muốn thấu
triệt “Linh Thao” (Spiritual Exercises), thì cần tìm hiểu ý định của Thánh
Inhaxiô Loyola qua chữ Ngài viết.
Vậy khi viết ít hàng như trưng lại
ở điều IIb2 và IIc, lmsl chỉ muốn
Tri Ân –cộng lại hết– cả
ngàn người, không phải một người/cặp.
Khi Hội Thánh
kính “Thánh Anrê Dũng Lạc và Các Bạn Tử Đạo,” thì kính tất cả 117 Vị, không phải
chỉ một Vị nêu Danh. Cũng vậy, khi lmsl viết như ghi lại ở IIb2, thì chủ ý Kính Dâng, Tưởng Nhớ, và Tri Ân mà thôi, lại Tri Ân tất cả, không phải chỉ một cặp đích
danh.
IId. Nếu theo lập luận “thiếu mình thì không
thành” trong việc cộng tác để tổ chức
các Khóa I và các Khóa kế tiếp ở các nơi khác (như người phổ biến thuốc, người
tổ chức NGTTG, v.v.), cộng với điều IIb2 mà lmsl viết về Tri Ân (Dòng Tên, Quý
Đức Cha, Quý Đức Ông, Quý Cha, Quý Tu Sỹ Nam Nữ, Nhiều Quý Vị Giáo Dân), thì phải kể hàng ngàn người là “đồng sáng lập” hay
sao? Xưa nay chưa thấy đâu kể tên hàng ngàn người là các vị sáng lập của một
hội đòan nào.
III.
Có dựa vào Đại Hội (ĐH) Song Nguyền Thế Giới kỳ I, 7/1997, để quyết định về
“đồng sáng lập” được không?
IIIa. Đại Hội
này thuộc giai đọan IV chuyển sang giai đoạn V. Tuy vậy, vốn nhìn lại diễn tiến
trong ĐH:
1 Nếu có “đồng
thanh công nhận,” thì ai đưa vào chương trình nghị sự (CTNS)? CTNS ghi việc này
ở mục nào? Xẩy ra vào ngày giờ nào? Ai tuyên bố kết quả?
2 Chuyển giao
Biên Bản đó thế nào, từ ai qua ai? Ai chứng kiến? v.v.
3 Biên bản là tờ
ghi lại việc đã xẩy ra, muốn trở thành văn kiện chính thức thì phải đọc lại để
ĐH biết các điều ghi chép là trung thực, và được phổ biến, ít là cho các người
liên hệ, v.v. Vậy Biên Bản có qua các diễn tiến căn bản đó
không?
4 Nếu thế giới
“đồng thanh công nhận” từ 1997 (ở giai đọan IV rồi), thì từ đó đến nay khắp nơi
trên thế giới có biết, có nhắc đến không, dầu đã trễ.
5 Nếu đã “đồng,
cùng chung từ đầu” là từ 1978, không phải 1997, nếu thế giới đã thấy rõ từ đầu
phần nội dung này là của ông A sáng kiến, phần phương pháp nọ là của bà B đưa
ra, sách thủ bản ấy do anh C viết… (như khi đấu banh, người xem thấy rõ cầu thủ
này có 30 “touchdowns,” cầu thủ kia 20…), thì nay không cần đặt vấn đề nữa. Vả
chăng người tổ chức đấu banh – tìm nơi chốn thuê sân, quảng cáo, bán vé, giấy
phép…– không phải là cầu thủ lăn lộn thao dượt và tìm ra cách chuyên nghiệp để
thắng banh. Lần nữa, nếu CT bị chê, chết, giống như cầu thủ bị thua, “thì nay
sau mấy chục năm, có vấn nạn “đồng sáng lập” không?”
IIIb. Hoặc thế
giới không “đồng thanh công nhận,” hoặc có “đồng thanh” thì việc “đồng sáng lập”
phải là một thực tế mà Vị/Cặp đó đã biểu lộ ra (1) qua tư tưởng (đồng sáng kiến ra Nội
Dung, Phương Pháp, Thủ Bản, Kinh, Huy Hiệu, v.v.) và (2) qua hành động “đồng, cùng chung từ đầu”
trong CT ở khắp nơi (bằng hiện diện, liên kết, đóng góp tài lực, vật lực,
vui buồn sống chết, v.v.), chứ (3) không
qua việc dựa vào người khác công nhận. Vì “đồng sáng lập” là tự mình cùng
sáng kiến, “khai quang”, cùng tiên phong thực hành và săn sóc, nhất là với những
nơi khó khăn “đèo heo hút gió”; không phải như bầu cử, tức là bầu trước,công
nhận trước, rồi mới làm theo sau, lại thường làm ở nơi bề thế.
Thánh Inhaxiô
Loyola sáng tạo ra Phương Pháp Linh Thao trước, đem thực hành cho mình và cho
người khác sau, rồi tiếp tục hướng dẫn điều hành khắp nơi. Còn Thánh Phanxicô
Xaviê đi các nơi mà không là “đồng sáng lập.” Không ai “đồng thanh công nhận”
thì tự bản chất, Thánh Inhaxiô vốn là Vị sáng lập ra Dòng Tên và Phương Pháp
Linh Thao.
IV. Lương Tâm trước Nhan Chúa và Hội
Thánh.
IVa Nếu ai trước Nhan Chúa và Hội Thánh, thật sự
thấy mình là “đồng, cùng chung từ
đầu, thiếu người này thì người kia
không suy nghĩ, sáng kiến, và không thực hành được” trong năm giai đọan,
nhất là ba giai đọan đầu đặc biệt về thâu thập, nghiền ngẫm, sáng chế ra “thuốc”
TTHNGĐ và đi áp dụng thực hành, thì đó là Vị/Cặp “đồng sáng lập” ra CT.
IVb Riêng lmsl
trong cầu nguyện và suy xét, không thấy ai như vậy.
IVc Nên lương
tâm lmsl bảo “đồng lao cộng tác thì
nhiều, mà đồng sáng lập thì không.”
Xin Thánh Gia
tuôn tràn Hồng Ân trên Quý Vị đã và sẽ đến Khóa, nhất là Quý Vị có lòng thao
thức tìm tòi để Thích Ứng và Kiện Tòan về Nội Dung và Phương Pháp, đồng thời Duy
Trì được Đặc Tính Đòan Sủng của CT. Nhờ vậy mang lại ích lợi cho mình và tha
nhân trong “Khiêm nhường Biết lỗi, Nhận lỗi, Xin lỗi, Sửa lỗi, và Tha lỗi.” Trên
hết làm “Vinh Danh Chúa Hơn.” Xin Đức Mẹ và Thánh Cả Giuse cầu bầu cho chúng con
được bằng an. Amen. |