|
Hai tháng sau,
cũng tại Viện Y Học Dân Tộc, cha Sơn tổ chức một khóa cai nghiện mang tên là
Khóa Phục Sinh. Các bác sĩ của Viện phụ trách phần chữa trị thể lý. Các linh
mục, tu sĩ và một vài giáo dân đến giúp phần củng cố tâm linh. Một hôm, tôi đến
dự giờ cầu nguyện buổi tối do một nữ giáo dân hướng dẫn. Sau phần trình bày lý
thuyết, vị ấy yêu cầu những ai thấy cần được đặt tay cầu nguyện thì hãy bước
lên. Bác sĩ Chung cũng là một người theo giúp khóa ấy. Ông bước đến đầu tiên,
quì xuống trước mặt người giáo dân kia, xin đặt tay cầu nguyện cho mình. Cử chỉ
khiêm nhường này làm cho nữ tu phụ trách nhóm cai nghiện cảm động nói với tôi:
Thầy Chung là phó tế sắp được thụ phong trong một ngày gần đây.
Cuối năm 2002, tôi
được dòng Vinh Sơn mời đến dạy tiếng Pháp cho một số thầy chuẩn bị đi học thần
học ở nước ngoài. Tại đây tôi gặp lại thầy phó tế bác sĩ Chung. Thế rồi qua
những chia sẻ khiêm tốn nhưng đầy chân tình, tôi biết được chiều kích cao vời
của một con người mờ nhạt, thậm chí điên rồ, nếu ta nhìn với cặp mắt của xã hội
ngày nay. Sau đây là hành trình của một tâm hồn qua những chặng đường hiếm
thấy.
Hoàn cảnh và ước
mơ.
Khi nói về cuộc di
cư năm 1954, người ta nghĩ đến gần một triệu tín hữu công giáo đành rời quê cha
đất tổ để đi vào Nam với hai bàn
tay trắng hầu tìm một nơi có thể tự do biểu lộ đức tin của mình. Thanh niên
Nguyễn Viết Chương vào Nam không vì lý do ấy. Anh không phải
là Kitô hữu, và tôn giáo không bao giờ là một vấn đề đối với anh. Như mọi người
thuộc giai cấp nông dân thất học và nghèo xơ nghèo xác trong làng mình, anh
Chương chỉ có một cái đạo duy nhất, ấy là ‘đạo làm người’ theo truyền
thống Việt Nam . Nếu ai hỏi anh theo đạo nào,
anh bảo rằng anh theo đạo ông bà, mà không thắc mắc xem ‘đạo ông bà’ có nghĩa là
gì một cách cụ thể: đấy có thể là đạo mà ông bà đã theo và truyền lại, hoặc đấy
cũng có thể là đạo thờ cúng ông bà tổ tiên. Năm 26 tuổi, nhân biến cố 1954, anh
Chương rời thôn Ngô Xá, huyện Ý Yên, Tỉnh Nam Định, dẫn vợ con đi theo bà cô vào
Nam với hy vọng tìm một con đường thoát ra cảnh
nghèo túng, cái túng thiếu cơ cực khiến cho chị Chương phải mất đi đứa con thứ
hai và thứ ba khi chúng mới chào đời. Anh cảm thấy hài lòng khi được nhận làm
một bình nhì trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, dù bị chuyển lên vùng cao nguyên
để đóng quân tại Trạm Hành, nơi vòng đai Dalat, cách trung tâm thị trấn 12 cây
số. Năm 1955, người con thứ tư ra đời tại đây. Anh đặt cho con một cái tên gần
giống như tên mình: Nguyễn Viết Chung.
Chung không còn
nhớ gì về miền núi nơi mình sinh ra, vì năm 1960 cha cậu đã chuyển về Saigon để phục vụ trong một đơn vị không tác chiến. Khi
vừa có trí khôn, cậu bé Chung phải đối diện ngay với thảm cảnh của một gia đình
nghèo. Đồng lương của một quân nhân cấp hạ sĩ chỉ vừa đủ cho hai vợ chồng và bốn
đứa con sống lây lất qua ngày chứ không thể nào có một cuộc sống cho ra sống. Bà
Chương là một người phụ nữ bình dân mù chữ, hằng ngày chỉ biết thắp nhang lên
bàn thờ van vái ơn trên phù hộ cho chồng cho con. Ông Chương là một người sống
rất đúng với đạo đức truyền thống và tôn trọng các phẩm chất trung nghĩa lễ trí
tín. Tuy nhiên cái nghèo đã khiến ông trở nên một người cộc cằn, vì thế không ít
lần ông đã trút những trận lôi đình xuống vợ con mình. Hình ảnh về ‘mái ấm gia
đình’ còn lưu lại trong ký ức tuổi thơ của Chung là nỗi sợ đến khiếp đảm khi
phải đứng trong xó nhà chứng kiến cảnh mẹ mình trở thành nạn nhân cho các cơn
thịnh nộ của cha. Từ thuở còn là học sinh tiểu học, Chung mơ hồ nghĩ rằng mình
sẽ không lập gia đình, vì gia đình đối với cậu là một cái gì khủng khiếp. Cậu sợ
gia đình, sợ phải tạo thêm một gia đình bất hạnh.
Sống trong hoàn
cảnh này, trí óc non nớt của cậu nảy sinh một ước mơ kèm theo một quyết tâm:
phải học cho thật giỏi để cứu gia đình thoát khỏi cảnh nghèo. Thế là cậu
cắm cúi học tập trong những trường công lập hạng 2 ở Saigon . Niên khóa 1970-1971, cậu là một học sinh xuất sắc
lớp đệ tứ trường Trung Học Cộng Đồng Quận 6. Sau khi thi đậu trung học đệ nhất
cấp, cậu quyết định học ngay lớp đệ nhị mà không theo học đệ tam. Cậu phải làm
học bạ giả và ra trường tư mà học. Tuy nhảy lớp nhưng Chung vẫn học giỏi ở lớp
đệ nhị và đệ nhất. Cậu đậu tú tài toàn phần năm 1973.
“Khi nhìn lại
quá khứ, tôi thấy chương trình của Chúa thật huyền diệu. Nhờ học nhảy lớp đệ tam
mà tôi không bị nhập ngũ theo lệnh tổng động viên 1973, sau ‘Mùa Hè Đỏ Lửa’. Nhờ
những cơn thịnh nộ của cha mà đến năm 39 tuổi tôi vẫn còn độc thân để tự do đáp
lại tiếng gọi triệt để của Thiên Chúa”.
Tiếng gọi của cái
Mỹ.
Với bằng tú
tài trong tay, con đường tương lai bắt đầu hé mở cho cậu thanh niên 18 tuổi
Nguyễn Viết Chung. Một ngày mùa hè năm 1973, cậu tình cờ đọc bản tin trên tờ
Chính Luận: một giám mục người Pháp vừa qua đời tại trại cùi Di Linh. Vị giám
mục ấy là Jean Cassaigne, mà người công giáo gọi với cái tên quen thuộc là Đức
Cha Sanh. Ở trang trong, tờ Chính Luận thuật lại vắn gọn cuộc đời của vị giám
mục tuyệt vời ấy. Từ thập niên 40, khi được gửi sang Việt Nam , linh mục
trẻ Cassaigne chọn một vùng truyền giáo miền núi của dân tộc ít người, khu
Djiring hẻo lánh (hiện nay là thị trấn Di Linh) cách xa trung tâm Dalat 80 cây
số. Qua những lần viếng thăm mục vụ, cha nhận thấy rằng những ‘người cùi’ thường
bị loại ra khỏi làng để sống dở chết dở trong những cánh rừng lân cận, vì thế
cha đã thành lập một ngôi làng cho họ và mời các Nữ Tử Bác Ái lên chăm sóc. Làng
phung Kala ở Djiring suốt đời sẽ ở trong trái tim cha. Khi giáo phận Việt
Nam tách khỏi Cao Miên, cha Cassaigne
được tấn phong giám mục tiên khởi địa phận Sàigòn. Năm 1960, khi Hàng Giáo Phẩm
Việt Nam được thành lập, ngài trao tòa giám mục Sàigòn lại cho Đức Cha Simon Hòa
Hiền rồi trở về sống với anh em của mình là những người phung hủi ở làng Kala.
Ngài yêu thương người phung đến độ chia sẻ mọi sự với họ, và để yêu thương đến
cùng, ngài chia sẻ cả bệnh tật của họ để chết dần chết mòn trong thân thể đớn
đau của một người đã nhiễm bệnh phung.
Đọc tiểu sử cố
giám mục Cassaigne, Chung không để ý đến chức vị của ngài, mà chỉ thấy tấm lòng
mênh mông của một mẫu người tuyệt đẹp. Tuổi 18 là tuổi say mê các thần tượng và
gửi gắm vào đấy những ước mơ thầm kín chực chấp cánh bay cao. Cái Đẹp trong cuộc
sống đức cha Sanh đã biến ngài thành thần tượng của anh. Những thanh niên khác
mơ đến tiền tài danh vọng để tìm ra hạnh phúc, còn Chung thì mong tìm hạnh phúc
bằng cách sống một cuộc sống có ý nghĩa và chết đi cho những người bất hạnh theo
gương của thần tượng mình. Anh quyết định thi vào y khoa: đấy là một nghề có thu
nhập cao giúp anh có thể đưa gia đình ra khỏi cảnh túng thiếu, nhưng đồng thời
cũng là phương tiện để anh chăm sóc người cùi noi bước đức cha Sanh.
Tiếng gọi của cái
Thiện.
Sau một năm SPCN
(Sciences Physiques, Chimiques et Naturelles = Lý Hóa Vạn Vật), Chung thấy ước
mơ của mình trở thành viển vông. Việc thi vào y khoa nằm ngoài tầm tay của những
người thuộc giai cấp cùng đinh như anh. Anh thấy rõ điều này khi nạp đơn thi
tuyển. Hầu hết các sinh viên thi vào y khoa đều là con cháu của các bậc có chức
có quyền hay của các doanh nhân giàu sụ. Đa số đã tốt nghiệp từ một trường trung
học Pháp hay một trường công lập nổi danh. Xuất thân từ một gia đình mà người
cha là trung sĩ nhất, với kiến thức học được từ một trường tư thục vô danh,
Chung thấy mình toan làm chuyện đội đá vá trời. Gia đình anh nghĩ rằng anh chạy
theo một mục tiêu vượt quá sức mình nên khuyên anh bỏ ý định thi vào y khoa. Thế
nhưng anh vẫn kiên trì học ngày học đêm mà trong lòng cứ lo sợ miên man. Nhìn
thấy mẹ ngày ngày cầu khẩn những người đã khuất phù hộ cho gia đình, anh bỗng
tin vào những điều huyền diệu. Anh lên Lăng Ông Bà Chiểu, thắp nhang khấn vái
với cụ Lê Văn Duyệt. Anh thầm mặc cả với cụ: “Xin giúp con đậu vào y khoa. Để
đáp lại, con hứa, sau khi trở thành bác sĩ, sẽ phục vụ cho người cùi”. Thế
rồi anh đậu vào y khoa ngay lần đầu tiên đi thi, năm 1974. Đối với nhiều người
khác, thứ hạng 181/213 hẳn không có gì đáng nói, nhưng đối với bản thân anh và
đối với gia đình, đấy là một ảo tưởng đã biến thành sự thật một cách thần
kỳ.
Ngày 04-11-1974,
Chung nhập học tại Đại Học Y Khoa, lúc bấy giờ còn mang tên là Trung Tâm Giáo
Dục Y khoa Sàigon. Trong những ngày đầu ngỡ ngàng, anh bị thu hút ngay bởi một
người Bỉ, giáo sư Marcel Lichtenberger, dạy môn Mô Phôi Học (histologie et
embryologie). Ngoài kiến thức uyên bác, giáo sư Lichtenberger còn tỏa ra tư cách
của một người thầy khiêm tốn và tận tụy, cứ như
thể
ông muốn dạy cho học trò mình một cái gì đó vượt lên hẳn những
kiến thức y khoa. Chung tìm được lời giải đáp
cho những thắc mắc của mình khi tất cả sinh viên năm thứ nhất, dù công giáo hay
không, đều được mời dự một
thánh lễ gọi là Maccabée tại nhà thờ Jeanne d’Arc, để cầu nguyện hay tỏ lòng nhớ
ơn những
người hiến xác cho
sinh viên thực tập giải phẫu. Chung hiểu được vì sao giáo
sư
Lichtenberger luôn
toát ra một cái gì thanh thoát: linh mục cử hành thánh lễ ngày hôm ấy chính là
vị giáo sư
khả
kính của mình. Mãi sau này Chung mới biết rằng vị giáo sư ấy là một linh mục
từng phục vụ ở Trung Hoa rất nhiều năm và gần gũi với những người bệnh mà không
ai cứu chữa. Mang con tim nhạy cảm trước các nỗi bất hạnh, linh mục
Lichtenberger, với kiến thức y khoa của một y công, đã phải mổ hàng trăm ca mà
không có một bằng cấp nào; để rồi năm 44 tuổi, ngài mới về Bỉ học cho hết chương
trình bác sĩ trong vòng 4 năm, thay vì 8 năm như mọi sinh viên y khoa khác. Tấm
lòng của vị linh mục đã buộc ngài trở thành một bác sĩ thực thụ năm 48 tuổi.
Chung chưa hề biết đến điều đó khi ngồi trên ghế đại học y khoa, nhưng nhìn thấy
cha Lichtenberger trong áo lễ màu tím xuất thần cầu nguyện trên bàn thờ, Chung
cảm nhận rằng thần tượng thứ hai của mình cũng đã đặt nền móng cho cuộc đời ông
trên cùng một cội nguồn như thần tượng thứ nhất. Từ cái Mỹ mà anh đọc qua cuộc
đời Đức Cha Cassaigne, chàng sinh viên Chung đã nghe được tiếng gọi của cái
Thiện xuất phát từ tâm hồn của vị thầy tốt lành này.
Cái Thiện ấy rất
gần mà cũng rất xa đối với anh. Có lần giáo sư Lichtenberger yêu cầu sinh viên
điền vào tờ khai báo lý lịch trong đó có một ô ghi: nguyện vọng tương lai của
anh (chị). Chung điền vào mọi ô khác một cách nhanh chóng rồi ngồi mãi trước ô
‘nguyện vọng tương lai’ mà không biết phải viết làm sao. Đối với các bạn khác
thì không có gì phải suy nghĩ. Khi bước vào y khoa, họ đã có những hoài bão rõ
ràng cho ngày mai rồi: trở thành một bác sĩ giỏi, theo học cao hơn ở nước ngoài,
có một nơi làm việc xứng đáng, tìm cơ hội để thăng tiến trong nghiệp vụ và trong
xã hội con người… Khi hết giờ, Chung nộp tờ khai mà ô nguyện vọng vẫn còn để
trống. “Tôi xấu hổ không dám thổ lộ cho giáo sư Lichtenberger biết rằng
nguyện vọng tương lai của mình là làm sao trở nên giống như giáo
sư”.
Những tháng ngày
ray rứt.
Con đường học vấn
tưởng chừng đã êm ả thì biến cố 1975 đến đảo lộn mọi sự. Trường Y Khoa là một
trong những trường mở cửa lại sớm nhất sau ngày 30 tháng 04, tuy nhiên đối với
Chung, điều kiện tài chính ít ỏi để học tập đã biến mất. Cha anh là một trung sĩ
nhất trong chế độ cũ nên không phải đi học tập, nhưng người anh cả từng là trung
úy thì đang ở trong trại tập trung cải tạo. Chung không thể nào đang tâm nhìn
cha hằng ngày đạp chiếc xích lô vắng khách để nuôi nấng năm đứa con đang lớn như
thổi ở nhà. Anh thấy mình vừa có bổn phận phải chia sẻ gánh nặng với cha vừa
phải tiếp tục đi học. Hàng đêm, anh thay cha đạp xích lô từ 7 giờ đến 11 giờ
khuya. Sau một thời gian, anh không còn sức lực để vừa đi học ban ngày vừa đạp
xích lô ban đêm, nên đành phải chấp nhận để cha và em trai mình tìm kế sinh nhai
cho cả nhà, còn anh thì theo học để mong tìm một lối ra cho gia đình vào những
năm về sau. Ý thức sự thiếu hụt của mọi người, Chung không đòi hỏi một điều gì
cả. Đêm đêm, anh xin vào trực bệnh viện mong có cơ hội thực tập qua các trường
hợp cấp cứu. Có những đêm phải thức trắng rồi sáng hôm sau không có một đồng
dính túi để điểm tâm, anh vào lớp học mà mắt cứ hoa lên vì buồn ngủ và vì
đói.
“Phải trung
thành với ý nguyện ban đầu, bằng bất cứ giá nào”… Với quyết tâm ấy, chàng
thanh niên Chung mỗi năm lên một lớp cho đến 1978. Bước vào năm thứ năm, mọi
sinh viên phải theo một chuyên khoa. Các sinh viên trình lên một bản gồm 3
nguyện vọng. Nhớ ơn người mẹ đã cơ cực qua 9 lần sinh con, mà mỗi lần là một
biến cố thập tử nhất sinh, Chung chọn ngành ‘sản khoa’ ở nguyện vọng 1. Trong
niên khóa ấy, giáo sư Đạt, một bác sĩ chuyên về nội thần kinh, đã làm cho anh
thích thú môn học này, vì thế anh ghi ‘nội thần kinh’ ở nguyện vọng 2. Còn
nguyện vọng 3, anh đành ghi ‘da liễu’ để có thể trả lời với cụ Lê Văn
Duyệt rằng mình không thất hứa. Ngày nghe tuyên bố về chuyên khoa của mình,
Chung hụt hẫng. Anh bị phân vào chuyên khoa ‘ký sinh trùng sốt rét’. Anh chẳng
vào được khoa nào trong ba nguyện vọng anh ghi. Suốt hai năm còn lại tại trường
Y Khoa, anh sống với tâm trạng đằn vặt của một người thất tín thất trung. Anh tự
trách: “Vì mình không trung thành với lời hứa phục vụ người cùi, nên đấng bề
trên chuyển mình sang khoa ký sinh trùng để xử phạt về tội bội
tín!”
Trả món nợ lương
tâm...
Anh ra trường năm
1980 và được phân công đến Phân Viện Sốt Rét TPHCM. Quá chán nản với công tác
này, anh bỏ nhiệm sở mà về gia đình hành nghề chui, với tư cách là một bác sĩ
đến từng gia đình bệnh nhân để chữa trị. Ít ra, anh cũng thực hiện được một
trong hai điều mình tự hứa trước kia. Tuy không có phòng mạch như bao nhiêu bác
sĩ khác, nhưng được cái là anh dễ mến, mát tay và nhận thù lao tương đối hạ, nên
thu nhập cũng tạm đủ để giúp gia đình thoát khỏi cảnh túng thiếu trường kỳ. Cha
anh ngưng đạp xích lô. Các em anh có phương tiện học hành hay thực hiện những
mong ước của mình. Thế nhưng tự đáy lòng, tiếng trách móc của lương tâm không
ngừng dày xéo anh: “Mày là một tên thất trung thất tín!” Năm 1984, sau
khi cưới vợ gả chồng cho các em, cũng như giúp họ ổn định cuộc sống, Chung quyết
định trả cho xong món nợ lương tâm bằng cách bỏ lại mọi sự mà đi chăm sóc cho
bệnh nhân cùi. Ý nghĩ đầu tiên là phải phục vụ tại Di Linh, nơi mà thần tượng
thứ nhất của anh đã thành lập, đã sống, đã chết và hiện nay mộ phần ngài vẫn còn
nằm tại đấy, trơ gan cùng tuế nguyệt như một chứng tích tình yêu. Anh lên trại
phong Di Linh xin nữ tu phụ trách cho phép anh làm việc ở đấy. Các nữ tu rất
trân trọng ý định của anh nhưng không thể đáp ứng yêu cầu, vì Trại Phong lúc bấy
giờ đã trở thành một cơ sở của Nhà Nước mà các nữ tu không có quyền tuyển dụng
nhân viên. Anh trở về Trường Y Khoa xin chuyển lên Di Linh. Về mặt hành chánh,
nhà trường không thể bổ nhiệm anh vào trại phong mà chỉ có thể chuyển anh lên Sở
Y Tế Lâm Đồng. Cầm giấy tờ trong tay, anh trình diện với vị trưởng phòng tổ chức
Sở Y Tế và nói lên nguyện vọng được về Trại Phong Di Linh. Bà trưởng phòng ngạc
nhiên hỏi:
Anh có điên không?
Hay là anh bị cùi?
Nếu tôi cùi thì bà
đã thấy rồi. Còn có điên hay không thì tôi không biết, nhưng điều tôi biết là
tôi mong muốn phục vụ những người cùi.
Anh sẽ nhận việc
tại trạm sốt rét, vì chuyên khoa của anh là ‘ký sinh trùng sốt rét’ chứ không
phải là ‘da liễu’.
Tôi lên đây vì
muốn phục vụ tại trại phong Di Linh. Nếu bà không cho phép thì tôi về lại TP Hồ
Chí Minh chứ không làm việc ở bất cứ nơi nào khác.
Về lại Saigon , anh tìm cách thực hiện lời hứa cho bằng được.
Không thể nào phục vụ người phong nếu thiếu chuyên khoa da liễu, nên anh xin làm
một nơi gần Saigon để có cơ hội bổ túc về
chuyên khoa. Ngày 01-07-1986, anh bắt đầu nhận việc tại Trạm Sốt Rét Đồng Nai,
trong khi chờ đợi cơ hội. Sau 3 năm làm việc tại đấy, cơ hội đã đưa anh đến Bệnh
Viện Da Liễu TP Hồ Chí Minh. Tại đấy, anh vừa phục vụ vừa học chuyên khoa với
điều kiện sau này phải chăm sóc người phong của Thành Phố, nghĩa là làm việc tại
trại phong Bến Sắn.
Tiếng gọi của cái
Chân.
Năm 1992, anh
xuống Bến Sắn để nhận nhiệm sở mới. Thế là mãn nguyện. Ước mơ tuổi thanh niên đã
trở thành hiện thực. Từ sáng thứ hai đến trưa thứ sáu, anh làm việc tại trại
phong Bến Sắn để bước cùng nhịp với các thần tượng hầu trung thành với lời hứa
của mình. Từ tối thứ sáu đến chiều chủ nhật, anh về Saigon làm bác sĩ tại gia để tìm một ít thu nhập cho cha
mẹ sống qua tuần. Cuộc đời anh dường như đã tới đích, anh không còn ước mơ gì
nữa.
Thế nhưng anh lại
phải đối diện với những vấn đề mới của cuộc sống. Tại trại phong, anh thấy mình
sống ở giữa hai nhóm người hoàn toàn trái ngược trong thái độ hành xử. Nhóm thứ
nhất gồm những người thiện chí, mà đa số là các Nữ Tử Bác Ái, chỉ sống tất cả
cho bệnh nhân; nhóm thứ hai gồm một số người nghĩ đến tư lợi của mình nhiều hơn
là lợi ích người bệnh. Với tư cách là trưởng phòng y vụ, bác sĩ Chung được nhóm
thứ hai săn đón để lôi kéo về phe mình, nhưng anh lại bị cuốn hút bởi nhóm thứ
nhất, vì qua họ anh hầu như chạm được cái Chân tiềm tàng nơi những người mà anh
từng đặt làm khuôn mẫu cho cuộc đời mình: Giám mục Cassaigne và linh mục
Lichtenberger. Chính các nữ tu này đã khiến cuộc đời anh dứt khoát rẽ qua một
bước ngoặt triệt
để.
“Tôi còn
nhớ sự kiện sau đây. Có lần hai anh em người Pháp đều là
linh mục đưa một bác sĩ cũng
quốc tịch Pháp đến cưa chân cho một số
bệnh nhân tại trại phong Bến Sắn. Vết thương của một người bị nhiễm trùng,
nên anh đã lớn tiếng với tôi: “Ông dùng tôi làm con vật thí nghiệm!”. Tôi quá
tức giận nên đã nặng lời với anh. Một xơ cao niên chứng kiến cảnh này mà không
nói một lời nào. Vài ngày sau, khi mọi chuyện đã êm, xơ nhẹ nhàng bảo
tôi:
Bác sĩ Chung à,
bệnh nhân đau chứ bác sĩ có đau đâu! Anh ấy bị cưa chân chứ bác sĩ có bị cưa
chân đâu! Những gì bác sĩ làm cho bệnh nhân, bác sĩ đừng cho là nhiều rồi. Những
điều bác sĩ làm cho họ không đền bù được nỗi đau cả đời của họ
đâu!
Tôi bỗng thấy nơi
xơ cao niên ấy một sức mạnh tinh thần họa hiếm. Ai đã giúp cho xơ có được lòng
quảng đại thanh thản như thế? Chắc là Chúa của xơ. Nếu Chúa của xơ có thể ban
cho xơ một sức mạnh như thế, thì Ngài cũng phải là Chúa của tôi!”
Ý nghĩ rằng Chúa
của các Nữ Tử Bác Ái cũng có thể là Chúa của mình vừa làm cho anh vui, vừa làm
anh e ngại. Lời dặn dò của mẹ, từ thuở anh còn là một cậu bé tiểu học cư ngụ
trong xóm đạo, cứ văng vẳng bên tai: “Chung không được đi đạo nhé. Người công
giáo kỳ cục lắm, cứ dụ người ta theo đạo. Đạo ai nấy giữ chứ!”.
Quả là những người
công giáo ở đây thật kỳ cục. Nhất là nữ tu công giáo. Nhưng kỳ cục không phải vì
họ dụ dỗ anh theo đạo, mà vì họ sống trên đời nhưng không bao giờ nghĩ đến bản
thân mình. Một trong các nữ tu mà anh có cơ may cộng tác một thời gian ngắn là
xơ Maria Phạm Thị Ngọc Loan, được mọi người trong trại gọi với cái tên thân
thương là Dì Hai. Khi bác sĩ Chung về trại phong, Dì Hai đang ở đấy với hai tư
cách: Phó Giám Đốc trại phong và Xơ Phục Vụ (soeur servante = dì bề trên) cộng
đoàn Nữ Tử Bác Ái Bến Sắn. Anh nghe kể lại rằng Dì Hai về đây năm 1976, lúc mà
chế độ chăm sóc các bệnh nhân phong hầu như không có gì, trong khi những nhân
viên mới đổi tới lấy hết cái này đến cái nọ trong trại về làm của riêng. Dì đã
phải đứng ra bảo vệ cho bệnh nhân và cỡi chiếc gắn máy tồi tàn chạy bằng xăng
pha dầu lửa về thành phố Hồ Chí Minh mỗi tuần nhiều lần hầu tìm nguồn lương thực
cho họ, đồng thời kêu gọi và đưa về Bến Sắn những bệnh nhân bỏ trại lên sống vất
va vất vưởng trên vỉa hè Sàigòn. Tim của Dì đập theo từng nhịp của con tim bệnh
nhân trong vòng 17 năm trường, để rồi ngưng lại khi người ta phát hiện quá muộn
bệnh ung thư trong hình hài của Dì. Dì sợ rằng cho biết sớm thì nhà dòng sẽ cấm
dì tiếp tục phục vụ bệnh nhân phong: Dì đã hy sinh mạng sống mình cho họ, theo
nghĩa đen.
“Hôm ấy chúng
tôi sắp đi công tác từ TP Hồ Chí Minh. Biết rằng Dì Hai đang ở vào những giờ
phút cuối đời, tôi ghé lại 36 Tú Xương để chào từ biệt. Tôi nói:
Dì Hai à, chút xíu
nữa đây, con với bác sĩ Quang và chị Bích Vân sẽ lên trại phong Di Linh mổ mắt
cho bệnh nhân trên ấy.
Nghe tôi nói, đôi
môi héo hắt của Dì Hai thoáng nở một nụ cười. Tôi
bước ra ngoài chờ
xe. Xe chậm đến. Nghĩ rằng đây có lẽ là lần cuối cùng còn gặp mặt Dì Hai, nên
tôi luyến tiếc trở lại một vài phút cạnh Dì. Nghe tiếng chân tôi vào, Dì Hai hé
mở mắt, nhìn thấy tôi, mấp máy đôi môi để nói lên một điều gì.
Xơ
chăm sóc ghé tai
vào miệng Dì lắng nghe, rồi lặp lại cho tôi: “Chung - Dì Hai hỏi - tại sao chưa
đi?” Thế đấy! Đến giây phút cuối cùng của cuộc đời, Dì Hai vẫn không nghĩ gì đến
mình, mà chỉ nghĩ đến bệnh nhân. Không chỉ là bệnh nhân tại Bến Sắn mà còn cả
bệnh nhân tại Di Linh nữa!”
Một bước ngoặt
triệt để.
Chung! Tại sao
chưa đi? Vâng, đã đến lúc
bác sĩ Chung quyết định đi đạo, đi theo con đường mà Dì Hai Loan đã từng
đi. Sau đám tang của Dì Hai, anh đến gặp Dì Camille Hạnh, giám tỉnh dòng Nữ Tử
Bác Ái, và trình lên ý nguyện đi tu để sống trọn vẹn cho bệnh nhân giống như các
dì. Dì Hạnh thông cảm từ thâm sâu mong ước của anh, vì dì cũng từng là một người
chịu phép rửa vào tuổi trưởng thành trước khi dâng hiến trọn đời mình cho Chúa
với tư cách nữ tu. Trong thời gian này, cha bề trên tổng quyền Tu Hội Truyền
Giáo Thánh Vinh Sơn đang có mặt tại Saigon
(Thánh Vinh Sơn Phaolô cũng là vị sáng lập dòng Nữ Tử Bác Ái), nên Dì Hạnh đã
đứng ra bảo lãnh và xin ngài nhận anh vào dòng Truyền Giáo. Cha tổng quyền chấp
thuận nhưng bảo rằng chỉ nhận vào dòng sau khi anh học đạo và chịu bí tích thánh
tẩy. Lúc bấy giờ anh chưa có khái niệm gì rõ ràng về Thiên Chúa. Điều duy nhất
anh biết: Ngài phải là cội nguổn của Chân Thiện Mỹ, bởi vì Ngài là Thiên Chúa
của những con người sống cuộc đời chân thật, tốt lành và tuyệt đẹp. Vì thế, anh
không do dự mảy may: Chúa của Đức Cha Cassaigne, của Cha Lichtenberger, của Dì
Hai Loan, sẽ là Chúa của anh. Chỉ còn một vướng mắc nhỏ: cha mẹ anh nghĩ sao?
Anh trình với song thân và hai vị bảo: “Con đã lớn nên toàn quyền chọn con
đường có ý nghĩa nhất cho đời mình; các em con cũng đã lớn, chúng có thể chăm
sóc cha mẹ, con đừng lo.”
Ngày 28-08-1993,
hai mươi năm sau bài báo của Chính Luận, bác sĩ Chung đến dòng Tên tại Bình
Dương gặp cha Hoàng Văn Đạt xin học giáo lý tân tòng. Cha vui mừng báo anh hay
rằng ngày hôm ấy Giáo Hội mừng lễ thánh Âu Tinh, một người đã chịu phép rửa khi
đang là một giáo sư lỗi lạc tại Rôma, để rồi trở thành một linh mục và một giám
mục thánh thiện và uyên bác tại Hippone, một thành phố Châu Phi. Để đánh dấu cho
bước ngoặt đáng ghi nhớ này, anh chọn thánh Âu Tinh làm quan thầy mình. Âu Tinh
Nguyễn Viết Chung lãnh nhận bí tích thanh tẩy từ tay cha chính xứ Bến Sắn, linh
mục Trần Thế Thuận, ngày 15-05-1994, tại nhà nguyện Trại Phong Bến
Sắn.
Ngày 15-09-1994,
anh trở lên Đalat, nhưng lần này không phải đến Sở Y Tế xin phục vụ người phong,
mà đến 40 Trần Phú, trụ sở dòng Truyền Giáo Vinh Sơn, để khởi sự tập luyện cuộc
sống quên mình trọn vẹn. Muốn thời gian tìm hiểu không gây trở ngại cho tương
lai của bác sĩ Chung, nếu ơn gọi linh mục không phải là con đường Chúa dành cho
anh, bề trên Tu Hội Truyền Giáo tại Việt Nam đề nghị anh làm quen với nếp sống
tu trì tại Túc Trưng. Suốt một năm ròng, mỗi tháng bác sĩ Chung làm việc 3 tuần
liên tục ở Bến Sắn, và dành trọn tuần thứ tư để sống tại nhà dòng Túc Trưng.
Trong thời gian thử thách này, anh đã chu toàn đúng mức hai vai trò trái ngược
của mình: Bác sĩ trưởng tại Trại Phong và em út trong cộng đoàn Vinh Sơn. Sau
một năm, bề trên thấy rằng đã đến lúc anh bỏ vai trưởng để chỉ còn sống trong
vai út. Anh xin nghỉ việc tại Trại Phong Bến Sắn và chính thức gia nhập Tu Hội
Truyền Giáo ngày 01-06-1995.
Thời gian nhà tập
hẳn không dễ dàng gì cho một người đã công thành danh toại rồi một sớm một chiều
trở nên ‘lính mới’ phải vâng phục mọi người, trong số đó có những thầy bằng nửa
số tuổi của anh. Thế nhưng bác sĩ Chung biểu hiện tư cách của một con người đã
thực sự tự hủy theo gương Chúa Kitô. Các thầy cùng thời với anh chân thành thổ
lộ: “Anh Chung luôn là một mẫu gương khiêm nhường cho tất cả chúng
em.”
Nhà dòng cho phép
tu sĩ Chung học dồn chương trình triết học
trong vòng một năm, để rồi khởi sự 4 năm thần học kể từ năm 1997. Ngày
25-03-2003, Giáo Hội trao thừa tác vụ linh mục cho thầy Âu Tinh Nguyễn Viết
Chung, qua lễ đặt tay của Đức Giám Mục Giuse Vũ Duy Thống, tại nhà thờ Đức Mẹ
Hằng Cứu Giúp TP Hồ Chí Minh.
Hành trình của một
cuộc đời.
Hành trình của một
cậu bé sợ hãi trong xó nhà đã kết thúc nơi bàn thánh. Một
người khởi hành trong
cái nghèo khó bị áp đặt, đi cả một vòng đời, rồi đến đích trong sự khó nghèo tự
nguyện. Một người đi từ nỗi bất
hạnh vì phải nghèo đến niềm hạnh phúc được sống nghèo. Một
người suốt đời mang
trong mình tiếng gọi: Phải trung thành! Và nhờ lòng trung thành ấy mà linh mục
Nguyễn Viết Chung nhận được Tin Mừng Cứu Độ, không phải qua những lời rao giảng,
mà qua hành động cụ thể của những con người, để rồi từng buớc nghe được cái Mỹ,
thấy được cái Thiện, chạm được cái Chân xuất phát từ Chúa Kitô, Đấng Tình Yêu
muôn đời tận hiến.
“Nếu tôi có một
lời để nhắn nhủ với người trẻ hôm nay,
thì tôi chỉ nói với họ điều này: Khi bạn phải sống trong hoàn cảnh của một người
nghèo, bạn cần nỗ lực ban đầu để vượt qua, nhưng hãy nhớ rằng mình luôn có những
vấp váp. Rồi một ngày nào đó bạn sẽ thấy rằng tiền không phải là trên hết. Điều
làm cho cuộc đời mình có ý nghĩa, ấy là phải trung thành. Tôi đã từng bất trung.
Và đã phải thông qua những kinh nghiệm chua chát.”
“...Tôi còn nhớ
hôm cha tổng quyền chấp thuận cho tôi nhập dòng Vinh Sơn là ngày thứ bảy. Qua
hôm sau, ngày chúa nhật, các cha Dòng Camillo mở diễn đàn kêu gọi các thanh niên
dâng hiến đời mình với tư cách là bác sĩ linh mục. Đây là đặc sủng của dòng ấy,
và lời kêu gọi này rất phù hợp với tôi. Thế nhưng tôi đã trốn không tham dự, vì
muốn trung thành với Tu Hội Vinh Sơn. Tôi đã biết thế nào là giá phải trả cho sự
bất trung rồi.”
Con đường của bác
sĩ Chung tưởng chừng như kết thúc tại cung thánh khi lãnh nhận chức linh mục.
Tuy nhiên, từ nơi ấy lại khởi đầu cho một hành trình mới. Bác sĩ Chung trở lại
với những bệnh nhân Aids ở Mai Hòa, với những người nghiện ma túy ở nhiều tổ
chức và trung tâm khác nhau... Nhưng lần này, qua việc chữa trị thân xác, linh
mục Chung còn đem lại cho họ bình an tâm hồn, một niềm bình an xuất phát từ
Thiên Chúa của những người mình ngưỡng mộ và cảm phục, mà giờ đây đã trở thành
Thiên Chúa của chính mình. Với chức linh mục, bác sĩ Chung làm chứng cho Tình
Yêu Thiên Chúa không chỉ bằng nghiệp vụ và tác vụ, mà còn bằng cả đời sống của
bản thân mình.
Nhìn lại con đường
đã qua, bác sĩ Chung thường xuyên lặp lại phương châm mình đã chọn cho ngày thụ
phong:
“Tạ ơn Chúa,
Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.”
Và nhìn vào ngày
mai, linh mục Chung không ngừng trung thành cam kết:
“Điều khấn hứa
cùng Ngài, con xin giữ trọn.”
Con đường Chúa đã
dẫn đi...
Thiên Chúa đã đến
trong cuộc đời Nguyễn Viết Chung bằng những bước đi nhè nhẹ. Nhưng mỗi lần Ngài
đến là Ngài để lại dấu ấn sâu sắc trong một tâm hồn biết lắng nghe. Giữa bao
nhiêu thần tượng trên thế gian, Nguyễn Viết Chung biết chắt lọc một vài khuôn
mẫu định hướng cho cuộc đời mình: Đức Cha Cassaigne, Cha Lichtenberger, Dì Hai
Loan... đấy là chưa kể đến nhiều người khác, trong đó có thân mẫu của mình, một
người mẹ đã suốt đời âm thầm chịu đựng cho đến khi mù lòa. Giữa các gương mặt
ấy, có một nhân vật gần giống như Nguyễn Viết Chung: Linh Mục Bác Sĩ Marcel
Lichtenberger. Thế nhưng con đường Chúa dẫn hai vị đi thì hoàn toàn trái ngược
nhau. Năm 25 tuổi, cha Lichtenberger bị tình yêu Thiên Chúa thúc bách phải đến
với những con người bất hạnh tại Trung Hoa; và trước những thương tích của Chúa
Kitô thể hiện trên hình hài các bệnh nhân, cha đã trở về ngồi lại trên ghế nhà
trường để rồi trở thành một bác sĩ năm 48 tuổi. Ngược lại, Nguyễn Viết Chung tốt
nghiệp bác sĩ năm 25 tuổi, thế rồi vì muốn chia sẻ trọn vẹn sự khốn cùng của
bệnh nhân nên rốt cục đã gặp Chúa Kitô chịu đóng đinh trong những con người bất
hạnh, và điều này khiến cho vị bác sĩ tận tâm kia từ bỏ mọi sự để trở thành linh
mục của Chúa vào tuổi 48. Một linh mục trở thành bác sĩ đã là đèn soi cho một
bác sĩ trở thành linh mục. Hành trình trái ngược của hai linh mục bác sĩ này bộc
lộ cho chúng ta một chân lý. Ai đến với Thiên Chúa một cách chân thật và trung
thành thì rồi sẽ liên đới với những con người bất hạnh. Và ai liên đới với người
cùng khổ một cách chân thật và trung thành thì rồi sẽ gặp được Thiên Chúa từ nơi
thâm sâu của lòng mình.
|